Chim bồ câu đưa thư là bồ câu nhà được nuôi để tự bay về chuồng từ nơi rất xa, mang theo một mẩu thư nhỏ buộc ở chân. Người La Mã, các vương triều Hồi giáo ở Baghdad và Cairo, nhà báo châu Âu thế kỷ 19 đều đã dùng chúng. Điểm cần hiểu đúng: bồ câu chỉ biết bay về nhà, nên muốn gửi thư phải chở chim đi trước, đây là đường thư một chiều.
Bồ câu đưa thư hoạt động thế nào
Bồ câu đưa thư không phải loài riêng. Chúng là bồ câu nhà, hậu duệ của bồ câu đá hoang, được chọn giống qua nhiều thế hệ để có khả năng tìm đường về tổ rất mạnh. Thả một con chim ở nơi lạ cách chuồng vài trăm cây số, phần lớn trường hợp nó sẽ bay vòng định hướng rồi lao thẳng về nhà.
Chúng định hướng bằng cách nào thì khoa học vẫn đang nghiên cứu. Các giả thuyết được nhiều bằng chứng ủng hộ gồm: dùng vị trí mặt trời như la bàn, cảm nhận từ trường Trái Đất, nhận ra địa hình quen khi tới gần, và có thể cả mùi trong không khí. Nhiều khả năng chim kết hợp vài cách cùng lúc.
Cách dùng thì luôn theo một quy trình:
- Nuôi chim ở chuồng đặt tại nơi nhận thư.
- Chở chim trong lồng tới nơi gửi, có khi bằng xe, thuyền, hoặc bằng cả khinh khí cầu.
- Khi cần, buộc thư viết trên giấy thật mỏng vào chân chim, hoặc cho vào ống nhỏ, rồi thả.
- Chim bay về chuồng, người nuôi gỡ thư.
Vì vậy, muốn liên lạc hai chiều thì hai bên phải giữ chim của nhau. Mỗi con chỉ mang được một lần, phải chở lại mới dùng tiếp. Đây là giới hạn lớn nhất của bồ câu đưa thư.
Thời cổ và trung đại: từ La Mã tới Baghdad
Người cổ đại ở Ai Cập, Ba Tư đã nuôi bồ câu từ rất sớm, và nhiều tài liệu phổ thông nói họ dùng chim để đưa tin, dù bằng chứng cụ thể cho từng trường hợp không phải lúc nào cũng rõ. Một ghi chép chắc chắn hơn đến từ La Mã: trong bộ Lịch sử tự nhiên, Pliny Già kể rằng năm 43 TCN, khi Decimus Brutus bị vây ở thành Mutina (nay là Modena, Ý), thư được buộc vào chân bồ câu để liên lạc với bên ngoài.
Thời trung đại, thế giới Hồi giáo đưa bồ câu đưa thư lên thành một hệ thống của nhà nước. Thế kỷ 12, vua Nur ad-Din cai trị vùng Syria lập các trạm bồ câu nối nhiều thành phố. Thời Mamluk ở Ai Cập, mạng lưới chuồng chim đặt dọc tuyến Cairo – Syria, chuyển tin theo kiểu tiếp sức: chim từ trạm này bay tới trạm kia, thư được buộc sang chim của chặng tiếp theo. Các nguồn Ả Rập thời đó còn ghi lại cách chọn giống và huấn luyện chim rất kỹ.
Thế kỷ 19: bồ câu chở tin tức và vi phim
Tin chứng khoán năm 1850
Khi điện báo mới xuất hiện ở châu Âu, các đường dây còn đứt đoạn. Năm 1850, giữa Aachen (Đức) và Brussels (Bỉ) có một khoảng trống chưa nối điện báo. Paul Julius Reuter, khi đó đang làm dịch vụ chuyển tin tài chính, dùng bồ câu bay qua khoảng trống này, nhanh hơn tàu hoả nhiều giờ. Khi đường dây được nối liền, đàn bồ câu nghỉ việc, còn dịch vụ tin tức của Reuter thì lớn dần.
Paris bị vây 1870 – 1871
Câu chuyện nổi tiếng nhất của bồ câu đưa thư thế kỷ 19 là cuộc vây Paris trong chiến tranh Pháp – Phổ. Thành phố bị cắt mọi đường liên lạc. Người Paris đưa thư ra ngoài bằng khinh khí cầu, và khinh khí cầu cũng chở theo bồ câu ra để sau đó chúng bay về mang tin vào thành.
Để một con chim mang được thật nhiều, nhiếp ảnh gia René Dagron chụp thu nhỏ các trang thư lên những tấm phim rất mỏng và nhẹ. Một con chim mang được hàng nghìn bức thư ngắn trong một ống nhỏ. Tới nơi, phim được chiếu phóng to lên tường để chép lại, rồi gửi tới người nhận. Vì nhiều con chim không về được do thời tiết, chim săn mồi hoặc bị bắn hạ, mỗi tấm phim được gửi lặp lại bằng nhiều con khác nhau. Đây là một trong những lần đầu tiên vi phim được dùng để chuyển thư trên quy mô lớn.
Pigeongram ở New Zealand
Từ năm 1897 tới 1908, đảo Great Barrier ngoài khơi Auckland (New Zealand) có dịch vụ thư bồ câu thường xuyên với đất liền, gọi là pigeongram. Dịch vụ phát hành tem riêng, được nhiều người xem là những con tem thư đường không đầu tiên. Nó ngừng khi đảo có đường cáp điện báo.
Các mốc đáng nhớ của bồ câu đưa thư
| Thời điểm | Nơi | Sự kiện |
|---|---|---|
| 43 TCN | Mutina, Ý | Pliny Già chép việc dùng bồ câu đưa thư khi thành bị vây |
| Thế kỷ 12 | Syria | Nur ad-Din lập mạng lưới trạm bồ câu của nhà nước |
| Thế kỷ 13 – 14 | Ai Cập, Syria | Nhà Mamluk duy trì tuyến bồ câu tiếp sức Cairo – Syria |
| 1850 | Aachen – Brussels | Paul Julius Reuter dùng bồ câu nối khoảng trống điện báo |
| 1870 – 1871 | Paris | Thư thu nhỏ trên vi phim do bồ câu mang vào thành phố bị vây |
| 1897 – 1908 | Đảo Great Barrier, New Zealand | Dịch vụ pigeongram thường xuyên, có tem riêng |
| 2008 | Odisha, Ấn Độ | Cảnh sát bang Odisha cho dừng dịch vụ bồ câu đưa thư, một trong những dịch vụ chính thức cuối cùng |
Bồ câu so với công nghệ: những phép thử vui
Năm 1990, giới kỹ sư mạng công bố một tài liệu đùa ngày Cá tháng Tư mô tả "truyền dữ liệu bằng chim mang tin", với đầy đủ quy cách như một tiêu chuẩn thật. Nó trở thành chuyện cười kinh điển trong ngành.
Năm 2009 ở Nam Phi, một công ty công nghệ thông tin, bực vì đường truyền chậm, cho một con bồ câu mang thẻ nhớ bay khoảng 80 km giữa hai văn phòng, đồng thời gửi cùng dữ liệu qua đường mạng. Con chim tới nơi trong hơn một giờ, lúc ấy đường mạng mới chuyển được một phần nhỏ. Phép thử không chứng minh bồ câu tốt hơn mạng, nhưng nhắc một ý thật trong giao nhận: chở một kiện lớn bằng tay đôi khi nhanh hơn truyền từng chút qua đường hẹp. Ngành dữ liệu ngày nay vẫn có dịch vụ chở cả thùng ổ cứng bằng xe tải vì lý do này.
Bồ câu đưa thư dạy gì cho người làm giao nhận
- Định vị trước điểm nhận. Chuồng chim phải nằm ở nơi nhận, cũng như kho hàng nên đặt gần khách. Hàng sẵn ở gần thì giao mới nhanh.
- Gửi lặp cho thứ quan trọng. Người Paris năm 1870 gửi mỗi tấm phim bằng nhiều con chim. Với dữ liệu, hồ sơ quan trọng, giữ bản sao và gửi theo hai đường là thói quen tốt.
- Thu nhỏ hàng trước khi chở. Vi phim của Dagron là bài học về đóng gói gọn: kiện nhỏ, nhẹ thì đi nhanh và rẻ hơn.
- Không đường nào an toàn tuyệt đối. Thời tiết, chim săn mồi, lạc đường: mỗi chuyến chim đều có rủi ro, như mọi chuyến hàng hôm nay.
Góc nhìn hôm nay
Bồ câu đưa thư không còn làm việc chuyển tin, nhưng nghề nuôi và thả bồ câu bay đường dài vẫn tồn tại như một thú chơi có tổ chức ở nhiều nước, kể cả Việt Nam. Ai nuôi chim cần lưu ý chăm sóc chuồng sạch, tiêm phòng theo hướng dẫn thú y và tôn trọng phúc lợi của chim, vì những chặng bay dài trong thời tiết xấu có thể làm chim kiệt sức.
Muốn tìm hiểu thêm, có thể đọc đoạn của Pliny trong Lịch sử tự nhiên, quyển 10, và các nghiên cứu về cuộc vây Paris, nhất là phần vi phim của Dagron. Bảo tàng Bưu chính ở Paris có tư liệu về thư khinh khí cầu và thư bồ câu năm 1870 – 1871. Ở nhiều thị trấn châu Âu, những tháp chuồng chim cổ bằng đá vẫn còn đứng, gợi lại thời bồ câu là thứ quý trong mỗi trang trại.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao chim bồ câu biết đường đưa thư?
Bồ câu không biết đường tới nơi lạ, chúng chỉ biết bay về chuồng của mình. Khoa học cho rằng chim kết hợp nhiều cách định hướng: vị trí mặt trời, từ trường Trái Đất, địa hình quen và có thể cả mùi.
Bồ câu đưa thư có bay hai chiều được không?
Không. Mỗi con chỉ bay về chuồng của nó, nên muốn gửi thư phải chở chim tới nơi gửi trước. Liên lạc hai chiều cần hai bên giữ chim của nhau.
Bồ câu đưa thư bay được bao xa?
Bồ câu được huấn luyện tốt có thể bay về từ khoảng cách hàng trăm km, trong các cuộc thả chim đường dài còn xa hơn. Tốc độ và quãng đường phụ thuộc nhiều vào gió, thời tiết và sức khoẻ của chim.
Bồ câu đưa thư được dùng lần cuối khi nào?
Một trong những dịch vụ chính thức cuối cùng là của cảnh sát bang Odisha, Ấn Độ, dừng năm 2008. Sau đó bồ câu chủ yếu được nuôi để thả bay như một thú chơi có tổ chức.
Thư bồ câu vi phim năm 1870 là gì?
Khi Paris bị vây năm 1870 – 1871, René Dagron chụp thu nhỏ các trang thư lên phim mỏng để bồ câu mang vào thành phố. Một con chim mang được hàng nghìn bức thư ngắn, tới nơi phim được chiếu phóng to để chép lại.