TEU (twenty-foot equivalent unit) là đơn vị tương đương một container 20 feet, dùng để đếm container và đo sức chở của tàu, công suất của cảng. Một container 40 feet tính là 2 TEU. Container 20 feet dài khoảng 6 m, container 40 feet dài khoảng 12 m; cả hai có cùng bề rộng và chiều cao tiêu chuẩn theo ISO 668, chỉ khác chiều dài, riêng loại "cao" (high cube) cao hơn chừng 30 cm.
Kích thước container theo chuẩn ISO
Tiêu chuẩn ISO 668 quy định kích thước ngoài và khối lượng tối đa của container chở hàng loạt 1. Kích thước ngoài được chuẩn hoá để container nào cũng xếp lên tàu, lên xe đầu kéo, lên toa tàu hoả như nhau. Kích thước bên trong thì xê dịch vài phân tuỳ hãng đóng, độ dày vách, nên chỉ nên coi là con số khoảng.
| Loại | Kích thước ngoài (dài × rộng × cao) | Lòng trong ước chừng | Thể tích ước chừng |
|---|---|---|---|
| 20 feet thường | khoảng 6,06 × 2,44 × 2,59 m | khoảng 5,9 × 2,35 × 2,39 m | khoảng 33 m³ |
| 40 feet thường | khoảng 12,19 × 2,44 × 2,59 m | khoảng 12,0 × 2,35 × 2,39 m | khoảng 67 m³ |
| 40 feet cao (high cube) | khoảng 12,19 × 2,44 × 2,90 m | khoảng 12,0 × 2,35 × 2,69 m | khoảng 76 m³ |
Khối lượng tối đa cho phép (cả vỏ lẫn hàng) và khối lượng vỏ của từng chiếc được ghi trên cửa container và trên tấm biển an toàn CSC gắn ở cửa, theo Công ước quốc tế về an toàn container năm 1972. Khi đóng hàng, con số đó mới là giới hạn thật, không phải con số đọc trên mạng.
Vì sao 40 feet không chở được gấp đôi 20 feet
Đây là điều nhiều người mới làm xuất nhập khẩu bất ngờ. Container 40 feet có thể tích gấp đôi, nhưng khối lượng hàng tối đa thì không gấp đôi; ở nhiều loại, mức chênh chỉ vài tấn. Lý do nằm ở kết cấu vỏ, ở giới hạn tải trọng của xe đầu kéo, rơ moóc và đường bộ.
Từ đó có một quy tắc chọn rất thực tế:
- Hàng nặng, đặc (gạch men, đá, sắt thép, gạo bao, giấy cuộn): thường dùng container 20 feet. Container chưa đầy thể tích đã chạm giới hạn khối lượng.
- Hàng nhẹ, cồng kềnh (đồ nội thất, quần áo, xốp, đồ nhựa rỗng): dùng 40 feet hoặc 40 feet cao. Thể tích đầy trước khi chạm giới hạn khối lượng.
Với đường bộ trong nước, xe kéo container còn phải tuân thủ tải trọng trục và tổng trọng lượng theo luật đường bộ. Container đóng đúng giới hạn của vỏ nhưng vượt tải trọng cho phép của xe trên tuyến đường là vẫn vi phạm. Người gửi nên hỏi đơn vị vận chuyển giới hạn thực tế cho tuyến mình đi.
Các loại container hay gặp
- Container khô (thường gọi DC hoặc GP): loại phổ biến nhất, cho hàng khô đóng thùng, bao, pallet.
- Container cao (HC): giống container khô nhưng cao hơn, hợp với hàng nhẹ cồng kềnh.
- Container lạnh (reefer): có máy lạnh gắn ở một đầu, giữ nhiệt độ cho thực phẩm, trái cây, dược phẩm. Cần cắm điện ở bãi và trên tàu.
- Container mở nóc (open top): nóc là bạt tháo được, cho hàng cao phải cẩu từ trên xuống.
- Container mặt bằng (flat rack): chỉ có sàn và hai đầu, cho máy móc quá khổ.
- Container bồn (tank): khung chuẩn ôm một bồn chứa chất lỏng.
Đọc số hiệu trên vỏ container
Mỗi container có một số hiệu theo tiêu chuẩn ISO 6346: bốn chữ cái (ba chữ đầu là mã chủ sở hữu, chữ thứ tư thường là U cho container chở hàng), sáu chữ số và một số kiểm tra ở cuối. Số kiểm tra được tính từ các ký tự phía trước, giúp phát hiện ghi chép sai một ký tự. Gần đó là mã kích thước và kiểu loại, cho biết container dài bao nhiêu, cao bao nhiêu, thuộc loại gì. Người nhận hàng đối chiếu số hiệu với chứng từ trước khi mở niêm phong.
Đóng hàng vào container: những điều cốt lõi
- Kiểm vỏ trước khi đóng: không thủng (đứng trong container đóng cửa, chỗ nào lọt sáng là chỗ thủng), sàn khô, không mùi lạ, cửa đóng kín.
- Phân bổ đều theo chiều dài: trọng tâm hàng nằm gần giữa container. Dồn hết hàng nặng về một đầu làm container nghiêng khi cẩu và gây lệch tải cho xe kéo.
- Nặng dưới, nhẹ trên; kín khe: chèn túi khí, thanh gỗ chặn ở khoảng trống, nhất là khoảng gần cửa.
- Chằng buộc hàng không lấp kín: container có vòng chằng ở sàn và vách; dùng chúng.
- Chống ẩm: hàng đi xa qua vùng nhiệt độ thay đổi có thể bị "mưa container" do hơi nước ngưng tụ; gói hút ẩm treo vách giúp giảm.
- Khai đúng khối lượng: từ ngày 01/7/2016, sửa đổi của Công ước SOLAS yêu cầu khối lượng toàn bộ container phải được xác nhận (VGM) trước khi xếp lên tàu.
Bộ quy tắc CTU Code do IMO, ILO và UNECE soạn là tài liệu tham khảo quốc tế đầy đủ nhất về cách đóng hàng vào container.
Container lạnh: đóng hàng khác ở đâu
Container lạnh không làm lạnh hàng, nó giữ lạnh hàng. Hàng phải được làm lạnh trước tới đúng nhiệt độ yêu cầu rồi mới đưa vào; nhét hàng còn ấm vào container lạnh là đẩy máy lạnh làm việc quá sức mà hàng vẫn không đạt nhiệt độ. Khí lạnh được thổi qua sàn có rãnh, đi lên qua khối hàng rồi quay về máy. Vì vậy không được xếp hàng chặn kín rãnh sàn, không xếp cao quá vạch giới hạn tải sơn trên vách, và phải chừa khoảng trống phía trên để khí lưu thông.
Thùng carton cho hàng lạnh thường có lỗ thông hơi, và người đóng hàng xếp sao cho các lỗ thẳng hàng với nhau. Nhiệt độ cài đặt, độ thông gió, độ ẩm được ghi theo yêu cầu của chủ hàng; người đóng hàng không tự ý đổi. Đây là mảng đòi hỏi kinh nghiệm riêng, nên với lô hàng lạnh đầu tiên, hãy nhờ đơn vị giao nhận có chuyên môn hướng dẫn.
FCL và LCL: thuê nguyên container hay ghép
FCL (full container load) là thuê nguyên một container, chủ hàng tự đóng hoặc nhờ đóng. LCL (less than container load) là gửi lô nhỏ, đơn vị gom hàng ghép chung với hàng của người khác. Lô nhỏ đi LCL thì tiện, nhưng hàng được đóng mở nhiều lần ở kho gom, nên bao bì phải chắc hơn và ghi nhãn rõ hơn. Cước LCL thường tính theo khối lượng hoặc thể tích, lấy con số bất lợi hơn; cách quy đổi cụ thể thì xem điều kiện của đơn vị gom hàng.
Góc nhìn hôm nay: một cái hộp thay đổi cảng biển
Năm 1956, Malcom McLean cho tàu Ideal X chở 58 container từ Newark tới Houston, khởi đầu cho vận tải container thương mại. Từ đó, cảng biển dần đo công suất bằng TEU, tàu được đặt tên theo sức chở TEU, và những con tàu lớn nhất ngày nay chở được hơn 20.000 TEU. Câu chuyện đầy đủ về container thay đổi thương mại thế giới nằm ở danh mục "Hàng đi khắp thế giới" của site này.
Muốn thấy container tận mắt mà không vào khu vực hạn chế, có thể quan sát từ xa các bến cảng lớn ở Hải Phòng hay khu Cái Mép – Thị Vải, hoặc đọc cuốn The Box của Marc Levinson, sách phổ thông nổi tiếng về lịch sử container.
Câu hỏi thường gặp
TEU là gì?
TEU là viết tắt của twenty-foot equivalent unit, đơn vị tương đương một container 20 feet. Một container 40 feet tính là 2 TEU. TEU dùng để đo sức chở của tàu và lượng container một cảng xếp dỡ.
Container 20 feet chứa được bao nhiêu khối?
Container 20 feet thường có thể tích bên trong khoảng 33 m³, tuỳ hãng đóng. Thể tích dùng được thực tế thấp hơn vì khe hở giữa các kiện và giới hạn khối lượng tối đa ghi trên cửa container.
Container 40 feet và 40 feet cao khác nhau thế nào?
Hai loại có cùng chiều dài và bề rộng; loại cao (high cube) cao hơn khoảng 30 cm, thể tích khoảng 76 m³ so với khoảng 67 m³ của loại thường. Loại cao hợp với hàng nhẹ, cồng kềnh.
Hàng nặng nên đi container 20 hay 40 feet?
Hàng nặng, đặc như gạch, đá, sắt thép thường đi container 20 feet, vì container chạm giới hạn khối lượng trước khi đầy thể tích. Container 40 feet không chở được gấp đôi khối lượng của 20 feet dù thể tích gấp đôi.
VGM là gì?
VGM là khối lượng toàn bộ container đã được xác nhận, bắt buộc theo sửa đổi Công ước SOLAS áp dụng từ ngày 01/7/2016. Container chưa có VGM hợp lệ thì không được xếp lên tàu.